Lừa tình để chiếm đoạt tài sản sẽ bị xử lý như thế nào?

Cập nhật: 13:19 | 08/05/2019

TBCKVN – Độc giả hỏi: Tôi có quen anh A (tôi xin được giấu tên), trước khi quen, anh A bảo với tôi chưa có gia đình. Trong thời gian quen nhau, anh A có mượn tổng số tiền của tôi là 15 triệu. Sau đó, anh A có hứa hẹn sẽ kết hôn với tôi nhưng đến khi tôi mang thai được 5 tháng tôi mới phát hiện anh A đã có vợ và có con.  

lua tinh de chiem doat tai san se bi xu ly nhu the nao Khởi tố cựu Chi cục trưởng Thi hành án ở Hậu Giang
lua tinh de chiem doat tai san se bi xu ly nhu the nao Tố cáo bị người khác lợi dụng tình cảm để chiếm đoạt tài sản như thế nào?
lua tinh de chiem doat tai san se bi xu ly nhu the nao Phải làm như thế nào khi bị người khác lừa mượn tiền rồi không trả?

Tôi có bằng chứng ghi âm được cuộc nói chuyện giữa tôi và anh A với nội dung anh A thừa nhận nợ tôi số tiền trên. Nếu giờ tôi muốn kiện anh A để lấy lại số tiền thì có được không?

lua tinh de chiem doat tai san se bi xu ly nhu the nao
Hình minh họa.

Trả lời:

1. Cơ sở pháp lý:

Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009

Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015

2. Luật sư tư vấn:

Căn cứ theo quy định tại Điều 140 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009 quy định về Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản:

"1. Người nào có một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ bốn triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới bốn triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm:

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó;

b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản."

Như thông tin bạn cung cấp, anh A có vay bạn 15 triệu đồng và có thừa nhận rằng vay bạn số tiền này. Do đó:

Trường hợp thứ nhất, anh A vay tiền của bạn sau đó bỏ trốn, không liên lạc được hoặc dùng số tiền vay từ bạn vào mục đích bất hợp pháp như buôn bán ma túy, buôn lậu, kinh doanh các ngành nghề pháp luật cấm,... hoặc có thể ngay từ đầu, anh A đã lừa dối bạn để cho anh A vay tiền với mục đích kinh doanh nhưng không sử dụng đúng mục đích ban đầu và cuối cùng anh A không trả lại cho bạn. Lúc này, bạn có thể làm đơn tố giác tội phạm về Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo Điều 140 Bộ Luật Hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009. Bởi lẽ hành vi của anh A đã đủ điều kiện cấu thành tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản của bạn với số tiền là 15 triệu đồng. Hình phạt của anh A có thể bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm.

Trường hợp thứ hai, nếu anh A vẫn hứa hẹn sẽ trả tiền cho bạn, anh A không có ý định bỏ trốn mà vẫn liên lạc thường xuyên với bạn, lúc này, bạn có thể nộp đơn khởi kiện dân sự anh A đến Tòa án nhân dân cấp quận, huyện nơi anh A đang cư trú (có thể là nơi đăng ký thường trú hoặc có thể là nơi đăng ký tạm trú). Hành vi này của anh A chưa đủ điều kiện cấu thành tội hình sự mà chỉ là vi phạm nghĩa vụ dân sự trong hợp đồng vay, mượn, do đó, bạn chỉ có thể khởi kiện anh A lên Tòa án để yêu cầu Tòa án giải quyết để yêu cầu anh A trả lại bạn số tiền 15 triệu mà anh A đã vay của bạn theo khoản 3 Điều 26, Điều 35 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015.

Như vậy, tùy vào từng trường hợp cũng như tùy vào tình tiết, bằng chứng bạn đưa ra thì bạn có thể khởi kiện anh A về mặt dân sự do vi phạm nghĩa vụ dân sự trong hợp đồng vay, hợp đồng mượn hoặc bạn có thể làm đơn tố giác anh A về Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản của bạn tại cơ quan Công an nơi bạn đang cư trú hoặc nơi anh A cư trú.

Hùng Dũng