Lập Facebook bán tiền giả nhưng đã xoá thì có phải chịu trách nhiệm hình sự?

Cập nhật: 16:52 | 14/04/2019

TBCKVN - Độc giả hỏi: Vào năm 2018, tôi bị lôi cuốn tham gia cá độ bóng đá qua mạng, sau đó thua và mắc nợ nhiều người. Do không có tiền trả, lên mạng tình cờ thấy đăng bán tiền giả, tôi liền hỏi mua để xoay sở. Sau đó, tôi nảy sinh lập facebook bán tiền giả và lừa được vài người. Tôi bắt người mua đặt cọc trước rồi không giao hàng. Xong tôi lấy tiền đó trả hết nợ rồi xóa facebook vì không muốn hại người nữa.  

lap facebook ban tien gia nhung da xoa thi co phai chiu trach nhiem hinh su khong Buôn bán thuốc lá lậu có bị truy cứu trách nhiệm hình sự?
lap facebook ban tien gia nhung da xoa thi co phai chiu trach nhiem hinh su khong Phạm tội trong trường hợp say do dùng rượu, bia có phải chịu trách nhiệm hình sự không?
lap facebook ban tien gia nhung da xoa thi co phai chiu trach nhiem hinh su khong Làm giả bảng lương để vay vốn ngân hàng có bị truy cứu trách nhiệm hình sự ?

Nhưng trong lương tâm tôi luôn cảm thấy rất cắn rứt. Tôi muốn hỏi với hành vi đó tôi có phải chịu trách nhiệm hình sự không?

Trả lời:

Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định như sau:

"Điều 174. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

lap facebook ban tien gia nhung da xoa thi co phai chiu trach nhiem hinh su khong
Hình minh họa.

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;

b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ; tài sản là kỷ vật, di vật, đồ thờ cúng có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại..."

Như vậy, theo quy định pháp luật nêu trên thì nếu như bạn có hành vi gian dối nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác mà khối tài sản đó có giá trị từ 2.000.000 VNĐ trở lên thì bạn sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Bạn đã thực hiện hành vi vi phạm thì bạn phải chịu trách nhiệm đối với hành vi đó, không phân biệt bạn đã chấm dứt hành vi hay chưa. Tuy nhiên bạn nếu như kết thúc thời hiệu theo quy định tại Điều 27 Bộ luật Hình sự năm 2015 thì bạn sẽ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự nữa, cụ thể:

"Điều 27. Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự

1. Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự là thời hạn do Bộ luật này quy định mà khi hết thời hạn đó thì người phạm tội không bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

2. Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự được quy định như sau:

a) 05 năm đối với tội phạm ít nghiêm trọng;

b) 10 năm đối với tội phạm nghiêm trọng;

c) 15 năm đối với tội phạm rất nghiêm trọng;

d) 20 năm đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

3. Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự được tính từ ngày tội phạm được thực hiện. Nếu trong thời hạn quy định tại khoản 2 Điều này, người phạm tội lại thực hiện hành vi phạm tội mới mà Bộ luật này quy định mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy trên 01 năm tù, thì thời hiệu đối với tội cũ được tính lại kể từ ngày thực hiện hành vi phạm tội mới.

Nếu trong thời hạn quy định tại khoản 2 Điều này, người phạm tội cố tình trốn tránh và đã có quyết định truy nã, thì thời hiệu tính lại kể từ khi người đó ra đầu thú hoặc bị bắt giữ."

Ngoài ra với thông tin bạn cung cấp thì chúng tôi có thể xác định bạn đã có sự ăn năn, hối cải do vậy nếu như khi cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xem xét, giải quyết bạn nên phối hợp điều tra, thành khẩn khai báo để nhận được quyết định, bản án thấp nhất, cụ thể Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định:

"Điều 50. Căn cứ quyết định hình phạt

1. Khi quyết định hình phạt, Tòa án căn cứ vào quy định của Bộ luật này, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự.

2. Khi quyết định áp dụng hình phạt tiền, ngoài căn cứ quy định tại khoản 1 Điều này, Tòa án căn cứ vào tình hình tài sản, khả năng thi hành của người phạm tội."

Hùng Dũng