Các gói thầu quy mô nhỏ có được áp dụng hình thức hợp đồng khác ngoài trọn gói không?

Cập nhật: 11:38 | 02/05/2019

TBCKVN – Theo quy định tại Điều 63, Nghị định 63, gói thầu quy mô nhỏ là gói thầu cung cấp dịch vụ phi tư vấn, mua sắm hàng hóa có giá trị gói thầu không quá 10 tỷ đồng; gói thầu xây lắp, hỗn hợp có giá trị gói thầu không quá 20 tỷ đồng.  

cac goi thau quy mo nho co duoc ap dung hinh thuc hop dong khac ngoai tron goi khong TOP 10 nhà thầu tham gia đấu thầu nhiều nhất Việt Nam
cac goi thau quy mo nho co duoc ap dung hinh thuc hop dong khac ngoai tron goi khong Công bố nhà thầu trúng Gói thầu Xây dựng hệ thống cống tại Hà Đông
cac goi thau quy mo nho co duoc ap dung hinh thuc hop dong khac ngoai tron goi khong EVN: Đơn vị dẫn đầu cả nước trong công tác đấu thầu qua mạng

Tại Điều 62 – Luật đấu thầu số 43 quy định: Hợp đồng trọn gói là hợp đồng có giá cố định trong suốt thời gian thực hiện đối với toàn bộ nội dung công việc trong hợp đồng. Việc thanh toán đối với hợp đồng trọn gói được thực hiện nhiều lần trong quá trình thực hiện hoặc thanh toán một lần khi hoàn thành hợp đồng. Tổng số tiền mà nhà thầu được thanh toán cho đến khi hoàn thành các nghĩa vụ theo hợp đồng bằng đúng giá ghi trong hợp đồng.

cac goi thau quy mo nho co duoc ap dung hinh thuc hop dong khac ngoai tron goi khong
Các gói thầu quy mô nhỏ có được áp dụng hình thức hợp đồng khác ngoài trọn gói không?. Ảnh minh họa

Hợp đồng trọn gói là loại hợp đồng cơ bản. Khi quyết định áp dụng loại hợp đồng quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này, người phê duyệt kế hoạch lựa chọn nhà thầu phải bảo đảm loại hợp đồng này phù hợp hơn so với hợp đồng trọn gói. Đối với gói thầu cung cấp dịch vụ tư vấn, dịch vụ phi tư vấn đơn giản; gói thầu mua sắm hàng hóa, xây lắp, hỗn hợp có quy mô nhỏ phải áp dụng hợp đồng trọn gói.

Về vấn đề điều chỉnh phạm vi hợp đồng trọn gói, hiện nay một số đơn vị, cá nhân vẫn chưa hiểu đúng về ý nghĩa của hợp đồng trọn gói; Trọn gói ở đây phải được hiểu theo nghĩa là trọn gói đối với khối lượng, phạm vi cụ thể ghi trong hợp đồng giữa hai bên, phù hợp với phạm vi mời thầu của bên mời thầu và phạm vi dự thầu của nhà thầu.

Theo đó, khi áp dụng trọn gói nếu chủ đầu tư và nhà thầu tại thời điểm ký kết hợp đồng chưa xác định được khối lượng cần phải thực hiện thì thực hiện việc điều chỉnh theo quy định tại Điều 93 – Nghị định 63, cụ thể:

(i) Điều chỉnh khối lượng: Nguyên tắc điều chỉnh khối lượng phải được quy định rõ trong hợp đồng nếu tại thời điểm ký hợp đồng chưa xác định được đầy đủ khối lượng cần phải thực hiện; Những khối lượng công việc tăng do lỗi chủ quan của nhà thầu gây ra thì không được phép điều chỉnh; Đối với những khối lượng công việc trong bảng giá hợp đồng mà thực tế thực hiện chênh lệch quá 20% khối lượng quy định ban đầu thì hai bên phải thỏa thuận nguyên tắc điều chỉnh đơn giá hợp lý, phù hợp với điều kiện thay đổi khối lượng (tăng hoặc giảm) khi thanh toán cho phần khối lượng thực hiện chênh lệch quá 20% này; Những khối lượng phát sinh ngoài điều kiện quy định điều chỉnh ban đầu của hợp đồng hoặc trường hợp cần phải có sự tham gia của cả hai bên trong hợp đồng để ngăn ngừa, khắc phục các rủi ro thuộc trách nhiệm một bên thì hai bên cùng bàn bạc thống nhất biện pháp xử lý.

(ii). Trường hợp có phát sinh chi phí hoặc thay đổi tiến độ thực hiện thì hai bên phải báo cáo cấp có thẩm quyền quyết định và ký kết phụ lục bổ sung hợp đồng để làm cơ sở thực hiện.

Văn Khương